Chào mừng quý vị đến với Website của Trường Tiểu học Hứa Tạo.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Đồng hồ
Sinh hoạt CM truyền thống và sinh hoạt CM dựa trên...

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn: St
Người gửi: Lê Thê (trang riêng)
Ngày gửi: 16h:27' 07-04-2015
Dung lượng: 61.5 KB
Số lượt tải: 22
Nguồn: St
Người gửi: Lê Thê (trang riêng)
Ngày gửi: 16h:27' 07-04-2015
Dung lượng: 61.5 KB
Số lượt tải: 22
Số lượt thích:
0 người
Nghiên cứu bài học
Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học.
1 Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học là gì ?
Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học là hoạt động GV cùng nhau học tập từ thực tế việc học của HS. Ở đó, GV cùng nhau thiết kế kế hoạch bài học, cùng dự giờ, quan sát, suy ngẫm và chia sẻ (tập trung chủ yếu vào việc học của HS) bài học. Đồng thời đưa ra những nhận xét về sự tác động của lời giảng, các câu hỏi, các nhiệm vụ học tập mà GV đưa ra,… có ảnh hưởng đến việc học của HS. Trên cơ sở đó, GV được chia sẻ, học tập lẫn nhau, rút kinh nghiệm và điều chỉnh nội dung, PPDH vào bài học hằng ngày một cách hiệu quả.
Triết lí SHCM dựa trên nghiên cứu bài học:
– Đảm bảo cơ hội học tập cho từng học sinh
– Đảm bảo cơ hội phát triển chuyên môn cho từng giáo viên
– Xây dựng cộng đồng nhà trường để đổi mới nhà trường
– Mỗi học sinh đến trường đều phải được học và học được
– Giáo viên phải chấp nhận mọi em học sinh với đặc điểm riêng của HS
Điều này tưởng như rất dễ và hiển nhiên, nhưng rất khó thực hiện
2.2 Sự khác nhau giữa sinh hoạt chuyên môn truyền thống và sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học.
SHCM truyền thống
SHCM theo NCBH
Mục đích
– Đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí từ các văn bản chỉ đạo của cấp trên.
– Người dự tập trung quan sát các hoạt động của GV để rút kinh nghiệm.
– Thống nhất cách dạy các dạng bài để tất cả GV trong từng khối thực hiện.
Mục đích
– Không đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí, quy định.
– Người dự giờ tập trung phân tích các hoạt động của HS để rút kinh nghiệm.
– Tạo cơ hội cho GV phát triển năng lực chuyên môn, tiềm năng sáng tạo của mình.
Thiết kế bài dạy minh hoạ
– Bài dạy minh hoạ được phân công cho một GV thiết kế; được chuẩn bị, thiết kế theo đúng mẫu quy định.
– Nội dung bài học được thiết kế theo sát nội dung SGV, SGK, không linh hoạt xem có phù hợp với từng đối tượng HS không.
– Thiếu sự sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học.
Thiết kế bài dạy minh hoạ
– Bài dạy minh hoạ được các GV trong tổ thiết kế. Chủ động linh hoạt không phụ thuộc máy móc vào quy trình, các bước dạy học trong SGK, SGV.
– Các hoạt động trong thiết kế bài học cần đảm bảo được mục tiêu bài học, tạo cơ hội cho tất cả HS được tham gia bài học.
Dạy minh hoạ, dự giờ
* Người dạy minh hoạ
– GV dạy hết các nội dung kiến thức trong bài học, bất luận nội dung kiến thức đó có phù hợp với HS không.
– GV áp đặt dạy học một chiều, máy móc: hỏi – đáp hoặc đọc – chép hoặc giải thích bằng lời.
– GV thực hiện đúng thời gian dự định cho mỗi hoạt động. Câu hỏi đặt ra thường yêu cầu HS trả lời theo đúng đáp án dự kiến trong giáo án (mang tính trình diễn).
* Người dự giờ
– Thường ngồi ở cuối lớp học quan sát người dạy như thế nào, ít chú ý đến những biểu hiện thái độ, tâm lí, hoạt động của HS.
Dạy minh hoạ, dự giờ
* Người dạy minh hoạ
– Có thể là một GV tự nguyện hoặc một người được nhóm thiết kế lựa chọn.
– Thay mặt nhóm thiết kế thể hiện các ý tưởng đã thiết kế trong bài học.
– Quan tâm đến những khó khăn của HS.
– Kết quả giờ học là kết quả chung của cả nhóm.
* Người dự giờ
– Đứng ở vị trí thuận lợi để quan sát, ghi chép, sử dụng các kĩ thuật, chụp ảnh, quay phim…những hành vi, tâm lí, thái độ của HS để có dữ liệu phân tích việc học tập của HS.
Thảo luận giờ dạy minh hoạ
– Các ý kiến nhận xét sau giờ học nhằm mục đích đánh giá, xếp loại GV.
– Những ý kiến thảo luận, góp ý thường không đưa ra được giải pháp để cải thiện giờ dạy. GV dạy trở thành mục tiêu bị phân tích, mổ xẻ các thiếu sót.
– Không khí các buổi SHCM nặng nề, căng thẳng, quan hệ giữa các GV thiếu thân thiện.
– Cuối buổi thảo luận người chủ trì tổng kết, thống nhất cách dạy chung cho các khối.
Thảo luận giờ dạy minh hoạ
– Người dạy
Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học.
1 Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học là gì ?
Sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học là hoạt động GV cùng nhau học tập từ thực tế việc học của HS. Ở đó, GV cùng nhau thiết kế kế hoạch bài học, cùng dự giờ, quan sát, suy ngẫm và chia sẻ (tập trung chủ yếu vào việc học của HS) bài học. Đồng thời đưa ra những nhận xét về sự tác động của lời giảng, các câu hỏi, các nhiệm vụ học tập mà GV đưa ra,… có ảnh hưởng đến việc học của HS. Trên cơ sở đó, GV được chia sẻ, học tập lẫn nhau, rút kinh nghiệm và điều chỉnh nội dung, PPDH vào bài học hằng ngày một cách hiệu quả.
Triết lí SHCM dựa trên nghiên cứu bài học:
– Đảm bảo cơ hội học tập cho từng học sinh
– Đảm bảo cơ hội phát triển chuyên môn cho từng giáo viên
– Xây dựng cộng đồng nhà trường để đổi mới nhà trường
– Mỗi học sinh đến trường đều phải được học và học được
– Giáo viên phải chấp nhận mọi em học sinh với đặc điểm riêng của HS
Điều này tưởng như rất dễ và hiển nhiên, nhưng rất khó thực hiện
2.2 Sự khác nhau giữa sinh hoạt chuyên môn truyền thống và sinh hoạt chuyên môn theo nghiên cứu bài học.
SHCM truyền thống
SHCM theo NCBH
Mục đích
– Đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí từ các văn bản chỉ đạo của cấp trên.
– Người dự tập trung quan sát các hoạt động của GV để rút kinh nghiệm.
– Thống nhất cách dạy các dạng bài để tất cả GV trong từng khối thực hiện.
Mục đích
– Không đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí, quy định.
– Người dự giờ tập trung phân tích các hoạt động của HS để rút kinh nghiệm.
– Tạo cơ hội cho GV phát triển năng lực chuyên môn, tiềm năng sáng tạo của mình.
Thiết kế bài dạy minh hoạ
– Bài dạy minh hoạ được phân công cho một GV thiết kế; được chuẩn bị, thiết kế theo đúng mẫu quy định.
– Nội dung bài học được thiết kế theo sát nội dung SGV, SGK, không linh hoạt xem có phù hợp với từng đối tượng HS không.
– Thiếu sự sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học.
Thiết kế bài dạy minh hoạ
– Bài dạy minh hoạ được các GV trong tổ thiết kế. Chủ động linh hoạt không phụ thuộc máy móc vào quy trình, các bước dạy học trong SGK, SGV.
– Các hoạt động trong thiết kế bài học cần đảm bảo được mục tiêu bài học, tạo cơ hội cho tất cả HS được tham gia bài học.
Dạy minh hoạ, dự giờ
* Người dạy minh hoạ
– GV dạy hết các nội dung kiến thức trong bài học, bất luận nội dung kiến thức đó có phù hợp với HS không.
– GV áp đặt dạy học một chiều, máy móc: hỏi – đáp hoặc đọc – chép hoặc giải thích bằng lời.
– GV thực hiện đúng thời gian dự định cho mỗi hoạt động. Câu hỏi đặt ra thường yêu cầu HS trả lời theo đúng đáp án dự kiến trong giáo án (mang tính trình diễn).
* Người dự giờ
– Thường ngồi ở cuối lớp học quan sát người dạy như thế nào, ít chú ý đến những biểu hiện thái độ, tâm lí, hoạt động của HS.
Dạy minh hoạ, dự giờ
* Người dạy minh hoạ
– Có thể là một GV tự nguyện hoặc một người được nhóm thiết kế lựa chọn.
– Thay mặt nhóm thiết kế thể hiện các ý tưởng đã thiết kế trong bài học.
– Quan tâm đến những khó khăn của HS.
– Kết quả giờ học là kết quả chung của cả nhóm.
* Người dự giờ
– Đứng ở vị trí thuận lợi để quan sát, ghi chép, sử dụng các kĩ thuật, chụp ảnh, quay phim…những hành vi, tâm lí, thái độ của HS để có dữ liệu phân tích việc học tập của HS.
Thảo luận giờ dạy minh hoạ
– Các ý kiến nhận xét sau giờ học nhằm mục đích đánh giá, xếp loại GV.
– Những ý kiến thảo luận, góp ý thường không đưa ra được giải pháp để cải thiện giờ dạy. GV dạy trở thành mục tiêu bị phân tích, mổ xẻ các thiếu sót.
– Không khí các buổi SHCM nặng nề, căng thẳng, quan hệ giữa các GV thiếu thân thiện.
– Cuối buổi thảo luận người chủ trì tổng kết, thống nhất cách dạy chung cho các khối.
Thảo luận giờ dạy minh hoạ
– Người dạy













Không đánh giá xếp loại giờ dạy theo tiêu chí, quy định.
– Người dự giờ tập trung phân tích các hoạt động của HS để rút kinh nghiệm.
– Tạo cơ hội cho GV phát triển năng lực chuyên môn, tiềm năng sáng tạo của mình.